Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

Đỗ Văn Xuyền

Đi tìm chữ Việt cổ E-mail
15/07/2008

Ngày 13/07/2008, ở "Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi" đã tổ chức báo cáo đề tài khoa học "Đi tìm chữ Việt cổ" của ông Đỗ Văn Xuyền. Cuối năm 2007, cũng tại đây ông Xuyền đã "Báo cáo quá trình sưu tầm tư liệu và kết quả nghiên cứu các thầy giáo thời Hùng Vương và chữ Việt cổ". Báo cáo này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, được báo chí (trong đó có thông tin của BLL họ Đỗ Việt Nam) đưa tin rộng rãi. Nhiều tổ chức cá nhân ở cả trong và ngoài nước nghe thông tin về việc làm nghĩa cử vì văn hóa và tổ tiên đất Việt của ông Đỗ Văn Xuyền và nhóm nghiên cứu, đã tự tìm về hoặc gửi thư khích lệ và có những đóng góp thiết thực ủng hộ đề tài. Nhiều thông tin liên quan đến sự tồn tại của thứ chữ Việt cổ ở nhiều nơi trong nước gửi về đã tiếp thêm động lực cho Nhóm vững bước trên chặng đường nghiên cứu tiếp theo.

Buổi báo cáo khoa học lần này có mặt nhiều nhà văn hóa, nhà khoa học có tên tuổi suốt từ bắc chí nam như các ông Giáo sư Lê Trọng Khánh, Giáo sư Đỗ Thế Tùng, tiến sĩ Nguyễn Vũ Anh Tuấn, tiến sĩ Đinh Công Vĩ, ....

nhom_chu_viet_co

Một số thành viên trong "Nhóm nghiên cứu Thời tiền sử" và "Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương " tại buổi báo cáo đề tài "Chữ Việt cổ" ở "Trung tâm Văn hóa người cao tuổi"

Ông Lê Văn Ánh - Giám đốc trung tâm Văn hóa Người cao tuổi và Phó giáo sư Đỗ Tòng chủ nhiệm "Nhóm nghiên cứu Thời tiền sử" chủ trì buổi báo cáo khoa học.
Sau bài thuyết trình đề tài khoa học "Đi tìm chữ Việt cổ" và trả lời các câu hỏi của nhiều nhà khoa học của chủ nhiệm đề tài, các đại biểu nhất trí cho rằng đề tài khoa học "Đi tìm chữ Việt cổ" có ý nghĩa về lịch sử và văn hóa rất to lớn, đã hội đủ các yếu tố cần thiết để có thể công bố rộng rãi ra cộng đồng. Giám đốc "Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi" đã đề cử 05 nhà khoa học có uy tín và chuyên môn giúp ông Đỗ Văn Xuyền hoàn chỉnh đề tài và công bố đầy đủ nội dung đề tài ra cộng đồng trong thời gian sớm nhất, là các vị:

1- Ông Lê Trọng Khánh một chuyên gia lớn về ngôn ngữ cổ của Việt Nam

2- Ông Nguyễn Viết Long- Nhà Nghiên cứu âm nhạc

3- Ông Nguyễn Vũ Anh Tuấn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương

4- Ông Trần Đôn- Nhà nghiên cứu lịch sử

5- Ông Lý Toàn Thắng- Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ học.

Sắp tới "Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi " và nhóm nghiên cứu đề tài "Đi tìm chữ Việt cổ" của ông Đỗ Văn Xuyền chủ trương tổ chức biên soạn giáo trình và giảng dạy chữ Việt cổ cho những những người có nguyện vọng đăng ký theo học, để làm sống lại một thứ chữ của ông cha tưởng chừng chỉ còn tồn tại trong huyền thoại và những ghi chép về lịch sử.

Ông Đỗ Văn Xuyền nguyên là nhà giáo, hội viên hội nhà văn Việt Nam, chủ tịch Hội Văn học Việt Trì, phó ban chỉ đạo đề án " Nghiên cứu thẩm định và phục hồi các di tích của cố đô Văn Lang". Ông là người tâm huyết, bỏ công sức đi tìm chữ Việt cổ mấy chục năm nay. Chúc cho thành công bước đầu của ông Đỗ Văn Xuyền và nhóm nghiên cứu sớm đến được với công chúng. Kết quả nghiên cứu của các vị đã mở thêm một góc nhìn mới đầy tự hào, khẳng định nền văn hiến ngàn đời của dân tộc Việt Nam.

NGAY TỪ THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG DÂN TỘC TA ĐÃ TỪNG CÓ CHỮ VIẾT ?

(Trích báo cáo của ông Đỗ Văn Xuyền chủ nhiệm đề tài Chữ Việt cổ - Trong nhóm nghiên cứu Thời tiền sử, thuộc Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi , ngày 13/7/2008)

ong_xuyen_thuyet_trinh

Ông Đỗ Văn Xuyền đang thuyết trình đề tài "Chữ Việt cổ " ở Trung tâm Văn hóa người cao tuổi"

... Những dấu tích về thứ ký tự của tổ tiên ngày càng phát lộ nhiều hơn:

Từ những nét khắc đơn sơ trên các bãi đã cổ ở Xín Mần (Hà Giang), Pá Màng (Sơn La), trên các đồ đồng Đông Sơn đến những hình vẽ tinh xảo đã mang tính khoa học, trên hàng trăm tảng đá ở Sa Pa mà chúng ta chưa giải mã được.

Chữ cổ trên bãi đá cổ Sapa


Một số văn bản có chữ Việt cổ tìm được tại Sơn La.

Tiến lên một bước, ta còn tìm thấy dấu tích chữ Khoa đẩu trên vách đá Đài Loan- một thứ chữ tượng hình mà nhìn qua ta cũng đoán biết đây là tiền thân của chữ Hán. các nhà khảo cổ Trung Quốc còn phát hiện nhiều di vật có khắc chữ, cách đây tới sáu bẩy ngàn năm, vào thời điểm mà các vùng phát hiện còn là khu vực cư trú của người Bách Việt....

Ta biết rằng ký tự của một dân tộc bao giờ cũng phát triển từ đơn sơ lên hoàn chỉnh. Sự phát triển này mang tính kế thừa. Vì vậy muốn nghiên cứu chữ viết của tổ tiên, ta phảI bắt đầu từ chữ viết xuất hiện gần ta nhất (song với ngôn ngữ của giai đoạn đó). Thời điểm này ít nhất cũng vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, trước khi đất nước ta chìm vào đêm dài tăm tối của trên 1000 năm Bắc thuộc.

Với phương pháp nghiên cứu khoa học, có điều kiện tiếp xúc nhiều tài liệu và với cái nhìn khách quan, một số nhà khoa học thế giới đã giúp ta những tài liệu mới về vấn đề này.

Giáo sư Noel barnard ở Đại học Quốc gia Úc đã khẳng định:

" Rõ ràng là thời trước Hán (thời của dòng Bách Việt) ở Trung Quốc đã tồn tại một hình thức chữ viết và ngôn ngữ văn học khá chuẩn xác"

Trong cuốn " Lịch sử chữ viết thế giới" xuất bản trước năm 1945, nhà khoa học Tiệp Khắc Cesmir Loukotca viết : " Phía nam đế quốc Trung Hoa có nhà nước An Nam, ngay từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên đã bị người Hán thống trị. Viên thái thú Sĩ Nhiếp đã du nhập chữ Hán vào. Trước đó, người An Nam đã đọc bằng thứ chữ ghi âm riêng. Chữ đó không còn tồn tại đến ngày nay"

Trước đó năm 1887, Terrien de Couperie đã viết trong tạp chí Hoàng gia Anh: "... Sĩ Nhiếp đã bắt người Việt học thứ chữ Hán tượng hình và cấm dùng chữ tượng thanh của mình"

Vào giai đoạn này nhiều cuốn kinh Phật được dịch sang chữ Hán (như Tạp thí dụ kinh, Cựu tạp thí dụ kinh... và Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội- dịch năm 246). Tới nay, căn cứ vào nội dung và căn cứ vào ngữ pháp của sách, Thiền sư Tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã có một phát hiện quan trọng: Cuốn Lục độ tập kinh không phải dịch từ chữ Phạn mà là chép nguyên văn một cuốn sách bằng chữ Việt. Thiền sư khẳng định: Ngay từ trước khi chữ Phạn từ Ấn Độ được truyền sang Đông Nam Á theo con đường Phật giáo thì ở Việt Nam đã có một hệ thống chữ viết hoàn chỉnh.

Không phảI chỉ có loại chữ ghi âm, tiến bộ vượt bậc so với loại chữ Hán tượng hình. Trong khi đến thế kỷ thứ 3, nhiều nơi ở Trung Quốc vẫn dùng thẻ tre ghi chép thì năm 43, Mã Viện đã báo cáo với vua Hán: Dân Giao chỉ đã làm được giấy mật hương, loại giấy thả xuống nước không nát. Sử còn ghi: năm 284 lái buôn La Mã mua từ Giao chỉ 30.000 tờ giấy mật hương biếu vua Tấn. Điều đó chứng tỏ kỹ nghệ làm giấy đã phát triển cao.

Giáo sư Jean Pierre Dregr, Giám đốc viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, căn cứ vào sách "Thập di ký" của Vương Gia, thời gian sau đó đã kết luận: Ngay từ thế kỷ 2 trước công nguyên, người Việt Nam đã làm ra giấy và sau đó truyền vào Trung Hoa.

Tất cả để chứng minh rằng: Ngay từ khi lập quốc, tổ tiên ta đã có chữ viết, từ những hình vẽ đơn sơ đến loại chữ khoa đẩu như hình con nòng nọc và tới khi bị kẻ thù triệt hạ thì thứ văn tự ấy đã đạt mức độ cao về mặt khoa học: " Thứ ký tự ghi âm chữ cái ghép vần... " có thể đứng ngang hàng với những loại chữ tiến bộ nhất của nhân loại
Đỗ Quang

bao_cao_chu_viet_co

Các đại biểu đang nghe đề tài khoa học "Đi tìm chữ Việt cổ"

chép blog Quainhanbang

http://vn.360plus.yahoo.com/quainhanbang/article?mid=25&prev=39&next=9

Chữ Khoa đẩu

Đăng ngày: 14:36 25-04-2009
Thư mục: Học thuật
  • Hình ảnh

Bài này xin mạn phép trình bày bộ chữ Khoa đẩu với những cải tiến có thể ghi âm tương đối đầy đủ tiếng Việt của thế kỷ 21.

Xin thành kính cảm tạ thầy Khánh Hoài đã tìm lại được chữ viết của Tổ tiên.

Nguyên âm : viết trước (bên trái), sau (bên phải), hay ở trên phụ âm. Nguyên âm ‘u’ viết sau phụ âm và hơi thụt xuống.

Nguyên âm ‘ă’ không đi với khóa đuôi thì đọc âm ‘a’.

Phụ âm : viết trước (bên trái), sau(bên phải), hay ở dưới nguyên âm.

Khóa đuôi : không có chữ gì khác viết ở trên, ở dưới hay bên phải khóa đuôi.

Riêng khóa o/u có 2 vị trí : trước hoặc sau nguyên âm.

Với vai trò khóa trước (hay khóa trái), đối với những nguyên âm viết trước hay trên phụ âm, hay là nguyên âm kép, khóa o/u được viết vào vị trí của phụ âm, và đẩy phụ âm ra sau.

Dấu thanh : viết dưới phụ âm. Những chữ có phụ âm bị đẩy ra sau thì dấu thanh viết dưới khóa o/u (khóa trái). Những chữ chỉ có 2 thanh (sắc , nặng) thì chỉ dùng dấu nặng, không viết dấu thì đọc với thanh sắc.

Xin hết. Mọi ý kiến thắc mắc xin mời comment tại đây.